Thursday, January 22, 2015

Hành trang của phiên dịch viên

Hành trang của phiên dịch viên 
 Sau khi phát triển năng lực đầy đủ trong cả hai ngôn ngữ đích và ngôn ngữ nguồn chúng ta mới có thể thực sự bắt tay vào công việc dịch. Có một giai đoạn trung gian giữa phát triển năng lực và dịch thật sự: bắt đầu biết được nhiều nguồn thông tin và học cách sử dụng chúng.

Các nền văn hóa tác động lẫn nhau làm cho nền văn hóa của mỗi dân tộc phát triển rực rỡ. Chúng ta biết rằng các nền văn hóa tác động lẫn nhau làm cho nền văn hóa của mỗi dân tộc phát triển.
Nhiều nền văn hóa làm cho chúng ta thấy được quyền con người, nhưng người ta chỉ có thể nhận ra nhiều nền văn hóa thông qua thảo luận, việc này đưa chúng ta trở lại với công cụ chủ yếu của thảo luận: ngôn ngữ. Vai trò của ngôn ngữ trong thế giới đang phát triển đang được cụ thể hóa thông qua dịch thuật, và vì khoa ngôn ngữ phê bình liên quan đến quá trình tạo ra và giải thích văn bản và bằng cách này quá trình nhận thức được định hướng về mặt xã hội, nó có thể được coi là một phương tiện tiếp cận thay thế đối với khoa dịch thuật.
Khoảng cách địa lý giữa các nước trên thế giới đang ngày một gần nhau hơn vì hệ thống thông tin liên lạc đang phát triển và đang ngày một tinh vi hơn. Trong quá trình trao đổi thông tin nhanh như vậy và vì mục đích thúc đẩy giao lưu văn hoá, có một việc không thể né tránh được là dịch thuật. Ðó là lý do tại sao chúng ta rất cần những dịch giả, phiên dịch có đủ năng lực.

Thế giới đang trải qua những thay đổi phức tạp trong những lĩnh vực khác nhau như công nghệ và giáo dục. Những thay đổi này tất nhiên liên quan đến các hệ thống giáo dục cao học, bao gồm cả các chương trình đào tạo dịch giả.
Theo Shahvali (1997), chỉ riêng vốn hiểu biết lý thuyết và kỹ năng thực hành không thôi thì không đủ để chuẩn bị cho sinh viên đối mặt với sự phát triền trong lĩnh vực này. Chúng ta cần đến khả năng thích ứng; vì vậy, cần thiết phải tập trung vào việc tự cập nhật của sinh viên và phát huy đầy đủ các kỹ năng về trí tuệ, giao tiếp và dự trù kế hoạch của họ.
Ðào tạo dịch giả là một nhiệm vụ quan trọng cần được ưu tiên đặc biệt. Công việc mà dịch giả đảm nhiệm để đề cao văn hoá và vun trồng ngôn ngữ là rất có ý nghĩa thông qua lịch sử. Dịch giả là người chuyển đổi thông điệp từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, đồng thời bảo tồn những giá trị, những quan niệm căn bản về văn hóa và diễn ngôn (Azabdaftary, 1996).
Nhiệm vụ của dịch giả là tạo ra những điều kiện trong đó tác giả của ngôn ngữ nguồn và độc giả của ngôn ngữ đích có thể giao tiếp với nhau (Lotfipour, 1997). Dịch giả sử dụng ý nghĩa cốt lõi có trong văn bản gốc để tạo ra một tổng thể mới, hay nói cách khác đó là văn bản đích (Farahzad, 1998).
Sau khi biết đến vấn đề này, câu hỏi được đặt ra là: người ta cần đến kỹ năng gì để tăng cường khả năng dịch thuật? Và làm thế nào để trở thành một một dịch giả có năng lực?
Bước thứ nhất là đọc bao quát nhiều bản dịch của nhiều loại văn bản nhau vì dịch thuật cần đến kiến thức chủ động trong khi đó phân tích và đánh giá bản dịch lại cần đến kiến thức bị động. Vì vậy cần phải phát triển khả năng tiếp thu trước đã, sau đó mới bắt đầu công việc dịch thuật; nghĩa là bằng cách tăng cường kiến thức bị động, dần dần sinh viên sẽ mở rộng được kiến thức chủ động của mình. Khả năng tiếp thu mở rộng khả năng trực giác về ngôn ngữ của sinh viên, giúp họ chuẩn bị sẵn sàng trước khi thật sự bắt tay vào dịch thuật. Một dịch giả có năng lực phải có kiến thức toàn diện về ngôn ngữ nguồn cũng như ngôn ngữ đích.

Sinh viên nên đọc những thể loại viết bằng ngôn ngữ đích và ngôn ngữ nguồn bao gồm văn học hiện đại, văn xuôi đương đại, báo chí, tạp chí, quảng cáo, thông cáo, hướng dẫn, vân vân. Nắm vững những thể loại này rất quan trọng vì chúng ngầm chuyển tải những nét đặc trưng về văn hóa của một ngôn ngữ. Sinh viên cũng nên đọc các bài báo hoặc tạp chí mới nhất chuyên về lý thuyết và thực hành dịch thuật. Các bài báo này không chỉ tăng cường kỹ năng đọc sách của sinh viên nói chung mà còn mang lại cho họ những hiểu biết được in sâu trong tiềm thức và sau này sẽ được áp dụng khi thực sự bắt tay vào dịch thuật.
Kỹ năng ‘viết’, nghĩa là khả năng viết lưu loát và chính xác bằng cả ngôn ngữ đích và ngôn ngữ nguồn, cũng rất quan trọng. Trên thực tế, viết là công việc chính của một dịch giả. Sinh viên nên nắm vững nhiều phong cách viết, các kỹ thuật và nguyên tắc của việc biên tập và cách chấm câu trong cả ngôn ngữ đích và ngôn ngữ nguồn. Biên tập và cách chấm câu có thể làm tăng chất lượng và sức hấp dẫn của bản dịch (Razmjou, 2002).
Ngoài ra sinh viên phải nghe được thành thạo cả ngôn ngữ đích và ngôn ngữ nguồn; nghĩa là họ phải nhạy bén trong việc tích lũy các cụm từ, thành ngữ, từ vựng chuyên biệt và cách sử dụng chúng. Những tích lũy đó sau này sẽ phải dùng đến. Trên thực tế đây là điều mà chúng ta gọi là sự mở rộng khả năng trực giác của sinh viên. Trực giác không thể phát triển mà không có môi trường ngôn ngữ cần thiết; đúng ra là nó cần thực tiễn và một bối cảnh đồng nhất. Nó cần sự trợ giúp của cả lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn. Cảm quan ngôn ngữ là hết sức cần thiết đối với một dịch giả có tài.

Một trong những điểm được coi là quan trọng nhất trong dịch thuật là khả năng hiểu được giá trị của văn bản nguồn trong phạm vi nội dung diễn ngôn của văn bản gốc. Để phát triển khả năng này dịch giả phải biết được những sự khác nhau về văn hóa và nhiều chiến lược diễn ngôn trong văn bản nguồn. Vì vậy, cấu trúc ngầm của văn bản gốc phải được dịch giả phát hiện thông qua nhiều chiến lược diễn ngôn.
Một dịch giả có năng lực phải am hiểu bối cảnh văn hoá, tập quán và xã hội của người nói ngôn ngữ gốc và ngôn ngữ nguồn. Dịch giả cũng phải am hiểu phong cách nói và diễn tả khác nhau, các tầng lớp xã hội của cả hai ngôn ngữ. Nhận thức về văn hóa và xã hội có thể làm tăng giá trị bản dịch của sinh viên lên rất nhiều. Theo Hatin và Mason (1990), khung cảnh xã hội trong khi dịch một văn bản thường thay đổi luôn và có lẽ điều này còn quan trọng hơn cả thể loại của nó. Quá trình dịch diễn ra trong khung cảnh văn hoá – xã hội. Vì vậy, điều quan trọng là phải đánh giá hoạt động dịch thuật trong một khung cảnh xã hội.

Sau khi phát triển năng lực đầy đủ trong cả hai ngôn ngữ đích và ngôn ngữ nguồn chúng ta mới có thể thực sự bắt tay vào công việc dịch. Có một giai đoạn trung gian giữa phát triển năng lực và dịch thật sự: bắt đầu biết được nhiều nguồn thông tin và học cách sử dụng chúng. Những nguồn này bao gồm từ điển đơn ngữ và song ngữ, bách khoa thư, và cả internet nữa. Sử dụng từ điển là một kỹ năng tự thân. Không phải tất cả sinh viê n đều biết cách sử dụng từ điển có hiệu quả. Mỗi từ đều có nghĩa riêng, dùng riêng cho từng ngữ cảnh. Về mặt này, từ điển đơn ngữ giải nghĩa có giá trị nhất. Khi dùng loại từ điển này sinh viên cần luyện tập nhiều để tìm được nghĩa thích hợp cho một ngữ cảnh riêng biệt.
Sinh viên cũng cần nắm vững cú pháp của câu gián tiếp và nhiều hình thái tu từ của ngôn ngữ nguồn như lối nói cường điệu, châm biếm, giảm nhẹ và ám chỉ. Nắm được những hình thái tu từ này sẽ tăng cường khả năng sáng tạo của sinh viên và biến kiến thức bị động của họ thành kỹ năng chủ động.
Khi chúng ta nhấn mạnh sự phát triển năng lực đối với ngôn ngữ đích và ngôn ngữ nguồn, có một phương pháp mà sinh viên không nên bỏ qua. Làm việc theo nhóm và cộng tác với người có cùng trình độ thường mang lại kết quả tốt hơn. Sinh viên nào luyện dịch với người có cùng trình độ sẽ có thể giải quyết vấn đề dễ dàng hơn, lòng tự tin và khả năng ra quyết định của họ cũng phát triển nhanh hơn (Razmjou, 2002). Mặc dù làm việc theo nhóm có thể có những sai sót, nhưng nhờ có trải qua sai sót, tìm ra và sửa chữa sai sót mà trí tuệ của sinh viên được khai mở và trở nên nhạy bén.

Một điểm quan trọng khác nữa là những dịch giả thành công thường chọn một loại văn bản riêng biệt để dịch và chỉ tiếp tục dịch trong lĩnh vực đó. Ví dụ, một dịch giả có lẽ chỉ có thể dịch hoặc là tác phẩm văn học, hoặc là tác phẩm khoa học, hoặc là văn bản báo chí. Ngay cả khi dịch tác phẩm văn học một số dịch giả có lẽ chỉ chọn dịch thơ, truyện ngắn hoặc tiểu thuyết. Thậm chí còn xác định rõ ràng hơn nữa, một số dịch giả chọn một tác giả riêng biệt và chỉ dịch tác phẩm của người đó mà thôi. Lý do là càng dịch các tác phẩm của một tác giả riêng biệt bao nhiêu, họ càng gần gũi với trí tuệ, cách tư duy và phong cách viết của tác giả ấy bấy nhiêu. Và dịch giả càng gần gũi với phong cách của một tác giả bao nhiêu, bản dịch sẽ càng có giá trị hơn bấy nhiêu.
Dịch thuật cần được luyện tập trong môi trường đại học trong đó sinh viên vừa tiếp tục công việc thực hành dưới sự giám sát của giáo viên vừa tiếp tục nghiên cứu các khía cạnh lý thuyết để nâng cao kiến thức của mình. Trong môi trường đại học, có nhiều nguồn tài liệu về dịch thuật cho sinh viên và vì vậy họ sẽ làm quen với các dịch giả có nhiều kinh nghiệm và các tác phẩm của họ bằng cách đọc và sau đó so sánh bản dịch với văn bản gốc. Theo cách này, sinh viên sẽ phát triển năng lực quan sát, khả năng hiểu thấu đáo sự việc và khả năng quyết đoán của mình. Những khả năng này sau đó sẽ thúc đẩy động cơ học tập và tăng cường kỹ năng dịch của họ.

Vì vậy, ngày nay người ta đã công nhận khoa dịch thuật là một ngành học quan trọng và trở thành một chuyên đề độc lập trong các trường đại học, tách khỏi khoa ngoại ngữ. Việc này nói lên một sự thật đã được công nhận là không phải cứ biết một ngoại ngữ là có thể trở thành dịch giả, như người ta vẫn thường lầm tưởng . Dịch thuật là chiếc chìa khoá mở ra sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước. Ngày nay thế giới mênh mông của chúng ta đầy ắp thông tin vì vậy chúng ta rất cần những dịch giả có đủ tài năng. Họ là những người vừa có kiến thức lý thuyết vừa có kỹ năng thực hành để hoàn thành xuất sắc công việc của mình. Tầm quan trọng của kiến thức lý thuyết là ở chỗ nó giúp dịch giả hiểu được việc lựa chọn ngôn ngữ trong văn bản phản ảnh những mối quan hệ khác giữa người gửi và người nhận như thế nào, giống như những quan hệ năng lượng, và những văn bản đôi khi được dùng để duy trì hoặc tạo ra những bất bình đẳng xã hội như thế nào (Fairclough, 1989).
Cuối cùng, cần phải biết rằng để trở thành một dịch giả có tài không phải chỉ có từ điển là đủ mà còn cần nhiều thứ khác nữa và không phải chỉ trong một sớm một chiều là có thể trở thành dịch giả được. Để trở thành một dịch giả có tài cần đầu tư đáng kể cả về ngôn ngữ đích và ngôn ngữ nguồn. Đó là một trong những nhiệm vụ khó khăn nhất để chuyển đổi một cách trung thực và an toàn giữa hai cách diễn ngôn của hai dân tộc. Chỉ có giải quyết vấn đề dạy dịch thuật một cách hệ thống và khoa học mới có thể tạo ra được những dịch giả tài năng. Và khi những sinh viên dịch thuật chia tay với mái trường đại học thì cũng là lúc quãng đường gian nan nhất của một hành trình bắt đầu.                                 sưu tầm.

Monday, June 30, 2014

Giáo Viên Biên Dịch, Phiên Dịch Quận Cầu Giấy, Quận Đống Đa, Quận Thanh Xuân, Quận Hà Đông

Giáo viên dịch thuật, họ lài ai? 
Trong quá trình tư vấn viên VEDICO tư vấn cho rất nhiều học viên gọi điện thoại đến để đăng ký học và hỏi thông tin về các khóa học Biên dịch, Phiên dịch, hầu hết các học viên đều cũng hỏi Giáo viên, Giảng viên VEDICO là ai?, có phải là thầy A, cô B công tác tại các trường Đại học như ĐH HN,ĐH Quốc Gia HN, Viện ĐH Mở HN v.v..


ĐH Quốc Gia HN…v.v giảng dạy hay không, trong phần này VEDICO sẽ đưa ra thông tin về Giáo viên giảng dạy Dịch thuật (Biên dịch, Phiên dịch) để học viên được biết.
Như quý vị và các bạn học viên đã biết, Dịch vụ đào tạo là một dịch vụ/ hàng hóa đặc biệt, đòi hỏi phải có sự đầu tư công sức, trí tuệ và tiền của để có được một SẢN PHẨM chất lượng, và hữu ích cho xã hội. VEDICO luôn nghĩ đến điều đó và sẵn sàng đầu tư cho Đội ngũ CBNV và Giảng viên của mình. 
Các lớp học đều được hỗ trợ, trợ giúp về học phí, với tinh thần đóng góp cho sự nghiệp giáo dục nước nhà và giúp nhân lực trẻ ở Việt Nam có một kỹ năng, kiến thức Dịch thuật thật tốt trong giai đoạn hội nhập kinh tế Quốc tế. VEDICO dành Quỹ phát triển Dự án VEDICO EDU-TECH PROJECT để trang trải: Đầu tư thiết bị, phòng học, Hỗ trợ học bổng, kinh phí cho các đôi tượng cụ thể; Chi lương/ thù lao cho đội ngũ Giảng dạy ở mức THỎA ĐÁNG nhất.





Giảng viên dạy Biên dịch, Phiên dịch tại VEDICO EDU-TECH PROJECT bắt buộc phải:

 1. Yêu cầu chuyên môn:

Có kinh nghiệm ít nhất 16 năm kinh nghiệm về giảng dạy, làm về công tác biên và phiên dịch:
- đã từng dịch tài liệu các Dự án cấp Bộ, ngành, các Tổ chức quốc tế;
- đã từng tham gia phiên dịch bao gồm dịch Consecutive (dịch đuổivà Simultaneous (dịch cabin) cho các hội nghị, hội thảo cấp quốc gia và quốc tế;
- đã từng làm phiên dịch cho các Dự án cấp Chính phủBộ, các tổ chức phi chính phủ (NGO’s),  các Ủy ban cấp Quốc tế... như ILO, ADB, WB, IFAD, và các Tập đoàn trong và ngoài nước...
- có kinh nghiệm sâu giảng dạy tiếng Anh (cả lý thuyết tiếng và thực hành tiếng).
- Phải qua các buổi phỏng vấn, Test sâu (biên và phiên dịch); tham gia dự giờ ít nhất 6 buổi vàgiảng trực tiếp trên lớp tại VEDICO 6 buổi dưới sự giám sát, đánh giá của Chuyên gia và Giảng viên cấp cao của VEDICO EDU-TECH PROJECT.



==>>> Ưu tiên những cán bộ/ giáo viên giảng dạy ở các trường ĐH về đúng chuyên môn Dịch thuật(kinh nghiệm trên 10 năm), nhưng có tham gia các dự án Biên dịch tài liệu của VEDICO (dịch tài liệu, biên tập tài liệu) và/hoặc thực hiện Phiên dịch cao cấp cho các cuộc họp, hội thảo trong và ngoài nước mà VEDICO đảm trách hoặc ký hợp đồng trực tiếp.

2. Kỹ năng bổ trợ giảng dạy:

- Đối với Biên dịch: Giảng viên phải biết sử dụng thành thạo phần mềm ứng dụng: Win-Words, PowerPoint (PPT), Projector, máy In, Scan…
- Đối với Phiên dịch: Ngoài yêu cầu như phần Biên dịch ở trên, Giảng viên phải biết sử dụng các công cụ hỗ trợ cho Phiên dịch như: Phòng Cabin, thiết bị âm thanh, Loa, Microphones, máy ghi âm, hệ thống máy tính, máy tăng âm, Projector ...v.v, Projector.

Trên đây là những thông tin về giáo viên giảng dạy Biên – Phiên dịch tại VEDICO. Ngoài ra, VEDICO vẫn thường xuyên tổ chức TESTS và các buổi trao đổi kinh nghiệm giữa các giảng viên, chuyên gia nhằm nâng cao kinh nghiệm giảng dạy tốt hơn, giúp các buổi hướng dẫn cho mỗi lớp được hiệu quả và thành công. 


Monday, June 23, 2014

Chứng Nhận Khóa Học Biên Dịch Phiên Dịch

Chứng nhận Chương trình luyện dịch thuật 


VEDICO hỗ trợ cho học viên, đội ngũ CTV thông qua các chương trình luyện biên dịch, phiên dịch thực hành, hỗ trợ cho các khóa học miễn phí, thực hành qua các sự kiện, hội thảo, hội nghị có sử dụng phiên dịch (cả hình thức consecutive và simultaneous - cabin),... do VEDICO đảm trách trong và ngoài nước.
   Ngoài ra VEDICO hỗ trợ giúp học viên thực tập, làm thêm theo các hình thức Thực tập sinh, Cộng tác viên và chính thức cho VEDICO và Các tổng cty, công ty, tập đoàn, Tổng cty 90, 91 các Bộ, Dự án ODA, FDI và các Khu CN. Đây là những đối tác lớn đã và đang hợp tác với VEDICO qua các dịch vụ của VEDICO như:

- Biên dịch tài liệu, hồ sơ Dự án và Phiên dịch các hội thảo, hội nghị 
- Công chứng và chứng thực tài liệu, hồ sơ, hợp pháp hóa Lãnh sự...

- Đánh giá trình độ Dịch thuật của các ứng viên dự thi vào các Dự án 

- Giới thiệu việc làm liên quan đến Dịch thuật (biên dịch và phiên dịch)

- Cung cấp nhân sự Dịch thuật theo nhu cầu của các đơn vị, dự án

      


Certificate of Translation Techniques and Skills

           Chương trình Dự án và Đào tạo luyện dịch cũng như "Chứng nhận nâng cao năng lực Dịch thuật" của VEDICO EDU-TECH đã được đánh giá cao bởi các nhà Tuyển dụng và các Tổ chức NGO đối với các học viên sau khi hoàn thành Chương trình theo quy định!



Công ty Cổ phần Giáo dục và Dịch thuật VEDICO
(VEDICO Translation and Education Joint Stock Company)  
Office: No. 8 – Ngõ 495 - Nguyễn Trãi St.,
         Thanh Xuân Dist., - Hà Nội - Việt Nam
Tel.:  + 84- 04- 355-33958; 04 66573941;
Fax.: + 84- 04- 355-33958

Mobile: 0904-128-134; Hotline: 0987 63 63 99
Website: www.thegioidichthuat.com ; www.daotaodichthuat.edu.vn : http://vedico.com.vn/   
E-mails : dichthuat@vedico.com.vn , contact@vedico.com.vn.
YM nick: hotrodaotao
Skype nick: phiendichcabin

Sunday, March 16, 2014

Phương pháp giáo dục tại Mỹ lên lớp ít hiệu quả cao

(Tin giáo dục) Có thể cảm nhận được ngay một điều là nền giáo dục Mỹ khuyến khích sinh viên học tập. Giáo dục được mở rộng cho tất cả những ai muốn học không kể đến chuyện sinh viên có thể tự trang trải toàn bộ học phí, hoặc sinh viên có phải là công dân của nước Mỹ hay không.

Ngoài việc có một hệ thống đa dạng các trường dạy nghề, trường đại học, với nhiều loại bằng cấp khác nhau thích ứng với nhu cầu và trình độ của từng cá nhân, nước Mỹ còn có nhiều chính sách hỗ trợ học phí cho sinh viên (kể cả sinh viên quốc tế), chẳng hạn như những khoản tiền cho vay dài hạn với lãi xuất thấp (loan program) và sinh viên không phải trả lại cho đến khi đi làm, những khoản tiền trợ cấp (grant) của từng bang để sinh viên có thể trang trải chi phí học tập và sinh hoạt…Đặc biệt là khi bạn đã học đến trình độ cao học, (thạc sĩ hoặc tiến sĩ), hầu hết các trường đại học đều có những chương trình học bổng du học tài trợ cho việc học của bạn.
Như vậy, có thể thấy rằng hệ thống giáo dục Mỹ có ưu tiên rõ rệt cho những ai có khả năng và muốn theo đuổi việc học tập. Đây chính là điểm khác biệt lớn của nền giáo dục nước Mỹ với các nước khác trên thế giới. Nếu muốn học tập ở Mỹ, một sinh viên quốc tế hoàn toàn có khả năng tự liên hệ với các trường đại học, gửi hồ sơ sang xin học và dành một học bổng. Trong khi đó, một số nước khác như Anh, Pháp, úc, vẫn chưa thực sự mở ra cơ hội này cho sinh viên quốc tế.

Thời gian lên lớp ít, hiệu quả cao
Một trong những đặc trưng nổi bật của phương pháp giáo dục Mỹ là tôn trọng thực tế, hiệu quả và “không nhồi nhét”. Một học kỳ, thay vì học học 7-10 môn học như ở Việt Nam, ở Mỹ, sinh viên Mỹ chỉ học 4 đến 5 môn, hiếm có sinh viên nào chọn học 6 môn một học kỳ. Một năm học ở Mỹ trên lý thuyết là học 9 tháng nhưng thời gian học thực tế chỉ thường khoảng 7 tháng vì sinh viên ở đây có rất nhiều kỳ nghỉ xuyên suốt một năm học như đã nói ở trên.
Tuy thời gian lên lớp không nhiều, nhưng học hành ở Mỹ vẫn vô cùng vất vả, đòi hỏi sinh viên phải nỗlực cao. Tại sao lại như vậy? Bởi vì phương pháp giáo dục, đào tạo ở Mỹ đòi hỏi sinh viên phải phát huy một cách tối đa tính tự giác. Điều này được thể hiện qua việc tự học và tự nghiên cứu. Ngoài giờ lên lớp, sinh viên thường phải hoàn thành một số lượng lớn các bài tập về nhà (problem sets), bài đọc (reading assignment), bài viết (papers). Chuyện vào thư viện, lên internet tìm hiểu thông tin để viết bài, đọc những tài liệu tham khảo khá dài là chuyện “như cơm bữa”. Thư viện ở nhiều trường đại học lớn còn mở cửa 24/24 giờ để đáp ứng nhu cầu học của sinh viên. Đối với sinh viên Việt Nam mình, học tập lại càng đòi hỏi phải nỗ lực nhiều hơn để cạnh tranh được với sv Mỹ.
Lý do thứ nhất, học tập bằng tiếng Anh là một thách thức không nhỏ. Bạn nên nhớ một điều rằng tiếng Anh, nhất là khả năng diễn đạt và khả năng viết vô cùng quan trọng, đặc biệt với các sinh viên theo học các ngành xã hội. Nhiều lúc học thấy ghen với sinh viên Mỹ vì để đọc được vài trăm trang sách bằng tiếng Anh, sinh viên mình phải bỏ một lượng thời gian gần gấp đôi sinh viên Mỹ, hay những lúc thảo luận, mình biết hai mà chỉ nói được một trong lúc sinh viên Mỹ có khi chỉ biết một nhưng lại nói được thành 2,3.
Lý do thứ hai, học ở Mỹ là học thật, là tự suy nghĩ, tư duy sáng tạo, tìm hiểu, sáng tạo. Phương pháp học này hoàn toàn khác so với Việt Nam vì vậy, sinh viên mình thường phải mất một thời gian mới thích ứng được.
Lên lớp ít, tự học, tự tìm hiểu, tư duy nhiều đã làm cho sinh viên biến các kiến thức học được trên lớp thực sự thành kiến thức của mình. Ngoài ra không chỉ là lý thuyết suông, các giáo sư thường cố gắng áp dụng việc “Học” vào thực tế, điều này cũng giúp sinh viên hiểu sâu và nhớ lâu. Ví dụ như trong dịp Bush và Gore đang tranh cử chức tổng thống Mỹ, câu hỏi trong bài kiểm tra giữa học kỳ cho khoá học kinh tế học 1 (economics 1) ở một trường đại học là chính sách thuế về xăng dầu của George W. Bush có ảnh hưởng như thế nào đến người tiêu dùng.
Lựa chọn và cơ hội
Nếu lần đầu đi du học tại Mỹ, bạn sẽ thấy ngạc nhiên khi thấy ngày đầu tiên nhập học, sinh viên nháo nhào chạy đi ghi tên vào các lớp học, rồi có khi học ở lớp này được 2 buổi lại chuyển sang lớp khác. Đây chính là một đặc trưng lớn của nền giáo dục Mỹ. Giáo dục ở đây theo hướng đáp ứng đúng nhu cầu và trình độ của từng cá nhân. Sinh viên hoàn toàn có cơ hội theo đuổi những gì mình mong muốn mà không sợ là kiến thức học được bị bỏ quên hay không dùng đến sau khi ra trường hoặc học xong không kiếm được thật nhiều tiền. Do đó, nếu như ở Việt Nam, mỗi học kỳ bạn phải học những môn học bắt buộc do nhà trường quy định, ở Mỹ, bạn tự chọn lựa những môn học phù hợp với sở thích, khả năng và theo đuổi của mình. Hơn nữa, một trường đại học có đến hàng trăm môn học khác nhau, và có khi cùng một môn học lại có đến hai ba lớp (section) riêng, do một hay nhiều giáo sư giảng dạy.
Như vậy, bạn không những chỉ lựa chọn lớp học mà còn lựa chọn luôn cả giáo sư giảng dạy nữa. Ưu điểm của phương thức lựa chọn lớp học này là phát huy một cách hiệu quả nhất những điểm mạnh của sinh viên đồng thời tạo cho sinh viên có cảm giác hứng thú học tập. Bí mật cần được bật mí: “Cơ sở triết học của phương châm giáo dục này được hình thành từ Chủ nghĩa nhân bản và tự do cá nhân thịnh hành ở các nước phương Tây nhất là thời kỳ Phục hưng. Tư tưởng này cho rằng mỗi cá nhân hơn ai hết là người hiểu rõ nhất năng lực và nguyện vọng của mình, và vì vậy họ phải được toàn quyền tự quyết trong cuộc sống và trong nỗ lực mưu cầu hạnh phúc của riêng mình”
Toàn diện
Giáo dục Mỹ chú trọng nhiều đến đào tạo học sinh một cách toàn diện. Việc học và việc chơi được kết hợp hết sức nhuần nhuyễn. Ngoài giờ lên lớp, sinh viên ở Mỹ còn tham gia vào rất nhiều các câu lạc bộ, các tổ chức khác nhau, rồi chơi thể thao, hát, chơi nhạc… Các hoạt động này vừa giúp tăng cường thể chất đồng thời cũng có tác dụng phát triển tính năng động, sáng tạo, và nhất là khả năng lãnh đạo (leadership skill). Đối với mỗi sinh viên, nếu chỉ biết học mà không hoạt động sẽ là một thiệt hại lớn.
Đơn cử như chuyện xin học đại học của sinh viên Mỹ, không có những kỳ thi đại học căng thẳng, những giờ học thêm tối ngày, việc bạn có vào được một trường đại học tốt hay không được hoàn toàn quyết định bởi toàn bộ quá trình phấn đấu của học sinh ở trường trung học. Ngoài chuyện điểm học, điểm thi các kỳ thi bắt buộc thì chuyện bạn năng động, tích cực trong môi trường trường học cũng là một yếu tố quan trọng có tính chất quyết định trong việc bạn có được nhận vào đại học hay không.
Tính cạnh tranh cao
Bằng cấp ở Mỹ vô cùng quan trọng cho sự nghiệp của mỗi cá nhân. Nếu vào được các trường đại học tốt và nổi tiếng và nếu học giỏi, cơ hội việc làm sẽ tăng lên rất nhiều. Mỗi trường đều có những quỹ riêng để cấp học bổng, trao giải thường cho những sinh viên đạt thành tích xuất sắc trong học tập. Ví dụ chương trình học bổng có uy tín: Fulbright, tài trợ toàn bộ chi phí ăn học cho sinh viên Mỹ ở một quốc gia khác trên thế giới. Vì vậy, quan hệ giữa các sinh viên trong trường đại học vừa mang tính cộng tác, vừa mang tính cạnh tranh cao vì việc vào học ở trường nào, học như thế nào, điểm số ra sao, thứ hạng bằng tốt nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến công việc và những cơ hội tiến thân sau này.