Friday, March 7, 2014

Nghề phiên dịch - Thu nhập cao


Nghề phiên dịch

Phiên dịch là một nghề đang “hot” trên thị trường việc làm với một thu nhập cao. Ở Việt Nam, nghề phiên dịch trước đây và ngày nay càng được coi trọng bởi trong bối cảnh hội nhập với thế giới, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức WTO thì nhu cầu phiên dịch các thứ tiếng đặc biệt là tiếng Anh ngày càng tăng cao. Người phiên dịch trở thành cầu nối quan trọng về ngôn ngữ và văn hóa.
Nghề phiên dịch là gì?
Phiên dịch hiểu một cách đơn giản là việc chuyển một chữ, một câu, một văn bản (nói hoặc viết) từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác mà không làm thay đổi nghĩa của chúng.
 
Nghề phiên dịch
 

Và tất nhiên, phiên dịch viên là người chuyên làm công việc chuyển các văn bản (nói hoặc viết) từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác một cách chính xác, giúp những người không cùng sử dụng một ngôn ngữ có thể hiểu nhau.

Nghề phiên dịch - Thu nhập cao cho người chuyên nghiệp nhưng cũng nhiều áp lực
Dựa vào hai loại hình giao tiếp cơ bản của con người (nói và viết), có thể chia công việc của người phiên dịch thành hai dạng: phiên dịch nói (thông dịch) và phiên dịch viết (biên dịch).
- Thông dịch: là việc chuyển đổi văn bản nói từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Người dịch nói phải chịu sức ép rất lớn về thời gian, phản ứng rất nhanh và gần như không có thời gian để suy nghĩ cân nhắc về từ ngữ. Thông dịch thường dùng trong các hội nghị, hội thảo quốc tế. Người dịch thường ngồi trong phòng cách âm, dịch qua micro, nghe qua tai nghe và dịch đồng thời luôn cùng với diễn giả (còn gọi là dịch ca-bin). Dịch đuổi  là dịch ngay sau khi người nói kết thúc một câu hay một đoạn ngắn. Bên cạnh đó, thông dịch cũng được dùng khi những người khác ngôn ngữ gặp nhau để trao đổi công việc.

- Biên dịch: là công việc chuyển từ một văn bản viết từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Người dịch không phải chịu sức ép thời gian căng thẳng hay yêu cầu  phản ứng tức thì như dịch nói. Tuy nhiên, lúc này yêu cầu độ chính xác cao về từ ngữ, ngữ pháp và trôi chảy hơn.
Tuy nhiên, dù dịch theo hình thức nào đi nữa, phiên dịch đều phải thực hiện quy trình cơ bản là hiểu ngôn ngữ nguồn -> phân tích ngôn ngữ học và văn hóa -> diễn đạt lại bằng ngôn ngữ mục tiêu. Trong cả hai loại hình dịch, người phiên dịch đều phải phản xạ hết sức nhanh, và khó khăn nhất là phải làm việc dưới một sức ép lớn. Khả năng nắm bắt thật nhanh, học thật nhanh kiến thức mới, nội dung mới và đặc biệt là khả năng diễn đạt ý của người khác một cách ngắn gọn, dễ hiểu là những yếu tố cốt lõi mà một phiên dịch viên phải luyện thật nhiều mới có thể nắm chắc được. Ngoài ra, phiên dịch còn phải rèn luyện về phẩm chất cá nhân để có thể giữ được danh dự và uy tín, để có thể thực hiện công việc một cách chuyên nghiệp.

Người làm phiên dịch là truyền đạt những thông tin từ người nói đến người nghe. Đây là công việc không hề đơn giản vì nếu chỉ cần dịch sai hoặc không đúng nghĩa của thông tin thì nội dung truyền đạt sẽ mang một ý nghĩa hoàn toàn khác.
Bên cạnh đó, sự khác biệt về phong tục tập quán cũng là điều khiến cho người làm công tác này phải chú ý để chuyển tải thông tin. Theo ghi nhận của Hội Nghiên cứu Dịch thuật TPHCM: Nếu phiên dịch có sự kết hợp trước với người nói thì hiệu quả thông tin đạt 90%, còn nếu dịch đuổi (cabin) thì hiệu quả thông tin chỉ đạt 50%.
    
Hiện nay, đội ngũ những người làm công tác phiên dịch ngoài công việc cố định họ thường có những hợp đồng phiên dịch bên ngoài. Chính vì thế thu nhập của các phiên dịch viên cũng khá cao. Trung bình mỗi khi phiên dịch cho các hội thảo hay hội nghị, thù lao họ được trả từ 200 - 400 USD/ngày. Tuy nhiên, để có được thù lao như thế những người làm nghề này phải làm việc rất cật lực. Người làm phiên dịch phải bỏ ra thời gian để đầu tư cho chương trình mà họ sẽ đảm nhận ít nhất từ 1 - 2 tuần. Riêng với những hội thảo có tính chuyên ngành, nhất là các lĩnh vực về khoa học họ còn mất nhiều thời gian đầu tư hơn để có thêm kiến thức cũng như thuật ngữ riêng của từng ngành.
Công tác phiên dịch được một số lượng đông đảo những người biết ngoại ngữ thực hiện. Dầu vậy, nhìn tổng thể, có thể nói công tác dịch thuật ở nước ta cho đến nay vẫn chưa trở thành một nghề mang tính chuyên nghiệp.


Việc thiếu chuyên nghiệp đã dẫn tới nhiều hậu quả đáng buồn, thậm chí nghiêm trọng. Báo chí đã từng đăng rất nhiều những sai lầm chết người như vậy như một thông dịch viên đã dịch đoạn nói về công ti Proctor and Gambles là “chúng tôi kinh doanh ở đây như đánh bạc”, mặc dù chữ “Gambles” ở đây đơn giản chỉ là tên công ti chẳng liên quan gì tới cờ bạc cả. Lần khác, trong khi cố gắng thể hiện sự tức giận của diễn giả đối với một hiện tượng bức xúc, thông dịch viên đã thêm cả từ “bloody” vào lời dịch, một từ cực kì bất lịch sự trong một khung cảnh trang trọng. Điều đó khiến tất cả cử toạ nước ngoài ồ lên và diễn giả lúc đó chẳng hiểu mình nói gì mà họ lại có phản ứng khác hẳn với các đại biểu Việt Nam như vậy. Trong biên dịch, những sai xot cũng không phải là hiếm. Không ít những lời thoại trong nhiều bộ phim đã được người biên dịch “bóp méo” đến 180 độ. Chẳng hạn, “we can’t get through” (trong tình huống đó phải hiểu là “Không xong rồi”) được chuyển thành “Chúng ta không thể xuyên qua”; “we can’t come to terms” (Không thể thống nhất) được chuyển thành “Chúng ta không thể đến kì học được”. Những sai sót này để lại những hậu quả rất lớn, nhất là đối với phương tiện thông tin đại chúng. Do vậy, việc sử dụng ngôn từ trên các phương tiện truyền thông cần phải cực kì cẩn trọng, đòi hỏi chất lượng và tính chuyên nghiệp cao.

Người phiên dịch không chỉ giỏi ngoại ngữ mà còn phải nghiên cứu, nắm vững một số thuật ngữ cần thiết liên quan đến hội nghị, hội thảo. Đây là “nghề làm dâu trăm họ”, nên phải rèn luyện, học tập thường xuyên, nếu không thì không thể tồn tại. Chỉ cần dịch kém một lần thì những lần kế tiếp không ai dùng mình nữa. Vì thế áp lực của công việc thật sự rất lớn.
Những yêu cầu bắt buột của người làm phiên dịch viên
Đa số người ta vẫn quan niệm rằng hễ ai thông thạo ngoại ngữ là có thể làm phiên dịch được mà không hiểu hết những đòi hỏi của nó. Đó là một quan niệm sai lầm. Không phải ai biết ngoại ngữ là có thể làm được phiên dịch. Người phiên dịch trước khi bước vào nghề cần được trang bị một cách đầy đủ về ngôn ngữ học, kiến thức chung, văn hóa nền, kỹ thuật dịch, sức khỏe và nhất là đạo đức người phiên dịch.


 
- Bước vào nghề phiên dịch, người dịch phải thông thạo ít nhất hai ngôn ngữ, gọi là ngôn ngữ làm việc (working languages).Trong mọi hoàn cảnh, người phiên dịch cũng phải thể hiện câu cú rõ ràng, mạch lạc. Do vậy trong sinh hoạt hàng ngày, người phiên dịch phải có ý thức sử dụng ngôn ngữ một cách nghiêm chỉnh, câu cú mạch lạc.

- Người phiên dịch ngoài vốn từ vựng phong phú cần phải có hiểu biết thấu đáo những vấn đề ngôn ngữ học của cả hai ngôn ngữ, hiểu biết những tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ không những chỉ về ngữ pháp mà còn về ngữ nghĩa và ngữ dụng. Những hiểu biết đó gắn chặt với tri thức văn hoá về đất nước, con người, lối sống, thói quen, phong tục tập quán của hai cộng đồng ngôn ngữ. Vì thế, một yêu cầu nữa rất quan trọng đó là người phiên dịch phải có sự am hiểu về văn hóa. Khi giao tiếp với nhau, các bên không chỉ khác về ngôn ngữ mà còn khác biệt về trình độ học vấn, môi trường sống, cách tư duy và đặc biệt là văn hóa. Nghề phiên dịch không phải thuần túy là quy trình chuyển mã, mà thực sự là một sự kiện giao lưu văn hóa.


- Không nóng nảy vì khi phiên dịch, thì bản thân không còn là mình nữa mà phải đặt bản thân vào địa vị của người truyền đạt. Tình cảm cá nhân lúc này không nên có. Tuy nhiên, tuỳ vào trường hợp, hoàn cảnh, nếu người truyền đạt nóng tính, nói những câu quá nặng nề (đối với cấp dưới chẳng hạn) thì phải lựa lời dịch sao cho rõ ý là họ đang thật sự tức giận, nhưng nói sao cho người nghe cảm thấy hiểu rõ được sự tức giận đó nhưng không thể phản ứng được. Nói tóm lại là phải có bản lĩnh trong việc ứng xử, truyền tải, phải chịu trách nhiệm nội dung truyền tải.


- Đạo đức nghề nghiệp - một yếu tố cực kì quan trọng. Giống như bất cứ nghề nào, nghề phiên dịch cũng cần có những chuẩn đạo đức hay quy tắc ứng xử riêng. Chuẩn đạo đức này chú trọng tới sự trung thành của người  phiên dịch đối với ngôn bản và ý tưởng; thái độ của người dịch không thiên vị đối với các bên đối thoại và nhất là không được thêm thắt, bình luận, nhận xét hay thể hiện thái độ của cá nhân người phiên dịch vào lời dịch. Tránh trường hợp người phiên dịch quên mất vai trò, vị trí và trách nhiệm phiên dịch của mình và đứng ra tranh luận như một đại biểu tham dự cuộc họp.

- Trí nhớ tốt
- Sức khỏe tốt
- Kiên trì và chăm chỉ, ham học hỏi
- Biết tổ chức công việc
- Nhanh nhẹn, nhạy cảm và tự tin
- Có kiến thức rộng về văn hóa, xã hội, con người. Muốn được vậy phải trau dồi thường xuyên, liên tục cập nhật những thông tin mới, những lãnh vực mới.

- Cần có sự chu đáo, cẩn trọng trong công việc. Luôn chuẩn bị trước về lĩnh vực mà mình sẽ phiên dịch.

Thursday, March 6, 2014

Những điều cần biết về nghề Biên – Phiên dịch


Những điều cần biết về nghề Biên – Phiên dịch
 
I. Biên – Phiên dịch là gì?  
1. Phiên dịch 
Hiểu một cách đơn giản là việc chuyển một chữ, một câu, một văn bản từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác mà không làm thay đổi nghĩa của chúng. Phiên dịch viên là người chuyên làm công việc chuyển các văn bản  từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác một cách chính xác, giúp những người không cùng sử dụng một ngôn ngữ có thể hiểu nhau.


Người phiên dịch thường đi nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người, được tham gia vào nhiều hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Cơ hội phát triển từ nghề này khá tốt. Nếu bạn là một người vừa tinh thông ngoại ngữ, vừa nhuần nhuyễn tiếng Việt, sẽ có rất nhiều cơ quan, tổ chức sẵn sàng mời bạn tới làm việc với mức thu nhập đáng mơ ước, tuy nhiên, công việc này khá vất vả, áp lực nặng nề.

2. Dịch cabin
Là loại hình dịch thuật thường được sử dụng trong các hội thảo, hội nghị quốc tế với quy mô lớn. Người dịch ngồi trong phòng kín (gọi là cabin), nghe bằng headphone và phiên dịch lại vào micro cho người tham dự…nên chúng ta thường không nhìn thấy họ.


Dịch cabin được ví là “quái kiệt” trong nghề dịch thuật bởi mức độ thử thách cao của nó. Người dịch phải dịch song song với diễn giả, tức vừa nghe vừa chuyển ngữ mà vẫn đảm bảo độ chính xác cao. Công việc này đòi hỏi sự ứng biến tốt, phản xạ nhanh và kiến thức rộng để dịch chính xác các thuật ngữ trong những lĩnh vực khác nhau.

3. Biên dịch (hay còn gọi là phiên dịch viết)
 Là công việc chuyển từ một văn bản viết từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Người dịch không phải chịu sức ép thời gian căng thẳng hay yêu cầu  phản ứng tức thì như dịch nói. Tuy nhiên, lúc này yêu cầu về độ chính xác và trôi chảy thường cao hơn. Người biên dịch phải có khả năng khai thác tài liệu dịch một cách phong phú, đa dạng, không chỉ đúng và đủ nghĩa.
Biết ngoại ngữ giỏi không có nghĩa là có thể trở thành một biên dịch giỏi. Bạn có thể hiểu hết nghĩa của tài liệu, nhưng cần phải làm sao để truyền đạt được nghĩa đó đến với người đọc đúng và đủ nhất. Muốn được như vậy, bạn cần giỏi tiếng mẹ đẻ, sử dụng thật nhuần nhuyễn từ ngữ mới có thể chuyển ngữ được bản dịch một cách tài tình nhất.

Kiến thức về văn hóa và đời sống, vốn sống cũng góp phần không nhỏ vào bản dịch của bạn. Sự không am hiểu có thể dễ dàng bị phát hiện qua một đoạn dịch “ngớ ngẩn”.
Công việc biên dịch là công việc cần sự cẩn trọng trong từng câu từ, ngữ nghĩa đến từng đoạn, khổ trong tài liệu. Nắm vững ngôn ngữ chưa đủ, bạn cần hiểu ý tác giả, hiểu nguyên tác tài liệu.
Bạn cũng nên lưu ý khi chọn lĩnh vực biên dịch. Có sự đam mê với một lĩnh vực cụ thể sẽ giúp bạn gắn bó và theo được nghề.

4. Cơ hội nghề nghiệp:
Trong bối cảnh hội nhập với thế giới, nghề phiên dịch, biên dịch lại cần thiết hơn bao giờ hết. Bạn có thể làm việc ở: Các tổ chức quốc tế, các công ty đa quốc gia, công ty du lịch, các toà soạn báo, đài phát thanh, truyền hình, các nhà xuất bản, các công ty, trung tâm dịch thuật. Hiện nay Bộ ngoại giao là nơi tập trung hệ thống phiên dịch viên được coi là giỏi giang và chuyên nghiệp nhất trong cả nước.  Ngoài ra, bạn cũng có thể làm việc tại các vụ phụ trách đối ngoại (vụ hợp tác quốc tế) của các Bộ trực thuộc trung ương như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Giáo dục và Đào tạo v.v…

Hiện nay, đội ngũ những người là công tác phiên, dịch ngoài công việc cố định họ thường có những hợp đồng phiên dịch bên ngoài. Chính vì thế thu nhập của họ cũng khá cao. Trung bình mỗi khi phiên dịch cho các hội thảo hay hội nghị, thù lao họ được trả từ 200 – 400 USD/ngày. Tuy nhiên, để có được thù lao như thế những người làm nghề này phải làm việc rất cật lực. Ông Huỳnh Văn Tài cho biết: Người làm phiên dịch phải bỏ ra thời gian để đầu tư cho chương trình mà họ sẽ đảm nhận ít nhất từ 1 – 2 tuần. Riêng với những hội thảo có tính chuyên ngành, nhất là các lĩnh vực về khoa học họ còn mất nhiều thời gian đầu tư hơn để có thêm kiến thức cũng như thuật ngữ riêng của từng ngành.
 


II. Những yêu cầu bắt buộc của người làm biên – phiên dịch

1. Về khả năng:
Bước vào nghề phiên dịch, người dịch phải thông thạo ít nhất hai ngôn ngữ, gọi là ngôn ngữ làm việc (working languages).Trong mọi hoàn cảnh, người phiên dịch cũng phải thể hiện câu cú rõ ràng, mạch lạc. Do vậy trong sinh hoạt hàng ngày, người phiên dịch phải có ý thức sử dụng ngôn ngữ một cách nghiêm chỉnh, câu cú mạch lạc.

Điều kiện cần thiết là bạn phải giỏi ngoại ngữ, thành thạo tối thiểu 2 kỹ năng đọc, viết. Để đọc hiểu những gì tác giả viết, bạn phải nắm vững ngữ pháp, có vốn từ vựng phong phú, tư duy linh hoạt để hiểu được cả những từ mới, từ viết tắt của tác giả.

Giỏi ngoại ngữ rồi, để dịch đúng, cũng như để người đọc hiểu được, bạn phải giỏi cả tiếng Việt. Không phải dịch từng từ (word by word) là được, mà phải linh hoạt trong cách sử dụng từ ngữ sao cho phù hợp với độc giả chính, cũng như với nội dung, bởi nếu không sẽ chẳng ai hiểu bạn đang muốn diễn tả cái gì, hoặc diễn tả không thích hợp.

Bạn phải cẩn thận trau chuốt từng câu chữ. Chỉ một từ không chính xác thôi cũng làm người đọc hiểu lệch ý của tác giả. Tránh dùng từ ngữ rườm rà kiểu “rằng, thì, là, mà”, hay lặp lại quá nhiều từ trong cùng một câu văn. 

Một yếu tố khác cũng rất cần cho người theo nghề biên dịch là phải có khả năng viết lách. Dịch đúng thôi chưa đủ mà bạn còn phải thể hiện sự uyển chuyển trong từng câu chữ nhằm tạo sức thu hút với người đọc.

2. Về tư duy
Bạn phải chú ý đến quan điểm của tác giả, nhất là khi quan điểm đó mới, bạn chưa hiểu hoặc có vẻ không hợp. Kiến thức bản thân là có hạn, không thể lấy kiến thức hay ý nghĩ chủ quan của mình để áp đặt cho tác giả, thậm chí xuyên tạc nội dung. Chẳng hạn có bài viết cho biết Bill Gates tuy giàu nhưng chỉ cho con mình xem tivi đen trắng, ý của bài viết nhằm cho thấy Bill Gates giáo dục con không được xa hoa lãng phí, thì một bạn lại biến tấu thành Bill Gates keo kiệt, không chịu bỏ tiền mua sắm.

Hãy đặt mình vào vị trí của người đọc, bạn cần biết độc giả cần gì và bạn có đáp ứng được nhu cầu đó hay không. Hãy tưởng tượng mình là người đọc, và phải hiểu được những gì mình đang viết ra cho người đọc này. Bạn sẽ trở nên xuất sắc, nếu giọng văn của bạn kết hợp được các yếu tố: diễn tả đúng điều tác giả cần nói (tư duy người dịch), dễ hiểu (tư duy người đọc), phù hợp thị trường (tư duy người bán).


3. Về tính cách
Không nóng nảy vì khi phiên dịch, thì bản thân không còn là mình nữa mà phải đặt bản thân vào địa vị của người truyền đạt. Tình cảm cá nhân lúc này không nên có. Tuy nhiên, tuỳ vào trường hợp, hoàn cảnh, nếu người truyền đạt nóng tính, nói những câu quá nặng nề (đối với cấp dưới chẳng hạn) thì phải lựa lời dịch sao cho rõ ý là họ đang thật sự tức giận, nhưng nói sao cho người nghe cảm thấy hiểu rõ được sự tức giận đó nhưng không thể phản ứng được. Nói tóm lại là phải có bản lĩnh trong việc ứng xử, truyền tải, phải chịu trách nhiệm nội dung truyền tải.

4. Đạo đức nghề nghiệp
Đây là một yếu tố cực kì quan trọng. Giống như bất cứ nghề nào, nghề phiên dịch cũng cần có những chuẩn đạo đức hay quy tắc ứng xử riêng. Chuẩn đạo đức này chú trọng tới sự trung thành của người  phiên dịch đối với ngôn bản và ý tưởng; thái độ của người dịch không thiên vị đối với các bên đối thoại và nhất là không được thêm thắt, bình luận, nhận xét hay thể hiện thái độ của cá nhân người phiên dịch vào lời dịch. Tránh trường hợp người phiên dịch quên mất vai trò, vị trí và trách nhiệm phiên dịch của mình và đứng ra tranh luận như một đại biểu tham dự cuộc họp.
5. Yếu tố khác
Có trách nhiệm cao với công việc của mình, cùng với sự nhẫn nại, kiên trì, và ước muốn không ngừng vươn lên sẽ giúp dần trở thành một biên dịch giỏi.
Để nâng cao kinh nghiệm, cần thường xuyên thử sức với các tài liệu khác nhau, cũng như tiếp xúc trao đổi với các thế hệ đi trước.
Có khả năng lĩnh hội và sử dụng ngôn ngữ một cách tinh tế đồng thời phải có khả năng ghi nhớ từ mới và dễ dàng hiểu được các cấu trúc ngữ pháp.

6. Những rủi ro thường cặp của thông dịch viên
Trước nhất, chính là bản thân bạn vì bạn không thể tự do nói lên suy nghĩ của mình vì xét đến cùng, bạn cũng chỉ là cầu nối mà thôi. Cầu nối vốn dĩ chỉ là nhằm giúp hai bên phía đầu cầu thông hiểu lẫn nhau bằng cách dịch lại cho chính xác phần nội dung mà thôi. Khi cả hai phía đã đạt được mục đích thì nhiệm vụ của bạn cũng coi như là đã hoàn thành

Là thông dịch, bạn chính là “người chịu trận” vì bạn đang đứng ở ranh giới giữa hai chiến tuyến. Có thể ví bạn là sứ giả, đang cố gắng mang lại hòa bình cho hai phe đối nghịch nhau. Thành công chắc hẳn sẽ là điều khiến bạn rất tự hào và hạnh phúc nhưng nên nhớ để có được điều đó, bạn đã phải không ít lần đánh đổi niềm vui của mình bằng những giọt nước mắt, những uất ức vì bạn chính là người hứng chịu những viên đạn lạc từ phía đối phương mà bạn đang cố hòa giải.
Là thông dịch, nếu may mắn thành công, truyền đạt đúng ý nghĩa của lời nói, nhiều người sẽ trầm trồ, khen bạn là giỏi, là xuất sắc nhưng bạn đừng nên vì thế mà vội mừng vì chưa chắc những người đã từng khen ngợi bạn sẽ không bao giờ quay lưng lại với bạn. Nhiều thành công cũng sẽ dễ dàng bị phủ nhận bởi chỉ một sai lầm bất cẩn không đáng có của bạn, để rồi sau này niềm tin vào khả năng của bạn cũng sẽ vì thế mà giảm hoặc thậm chí mất đi từ phía những con người mà trước đây đã từng trầm trồ khen bạn.

Thừa nhận một điều là công việc phiên dịch có thể giúp bạn kiếm được nhiều tiền nhưng thử nghĩ kỹ xem, để có được những đồng tiền đó, đầu óc bạn có thật sự thoải mái không khi lúc nào cũng phải cẩn trọng trong từng suy nghĩ, từng câu chữ, từng lời nói vì một khi phạm phải sai lầm trong thông dịch, hậu quả của nó sẽ to lớn vô cùng.

Là thông dịch, bạn không sợ nỗi lo bất đồng ngôn ngữ; tuy nhiên, chưa chắc những gì bạn đang cố gắng truyền đạt lại sẽ được người khác tin tưởng tuyệt đối. Vì một khi người ta đã không thiện cảm hay luôn dè chừng với đối phương của họ thì những gì bạn trình bày lại nếu có một chút gì lạ tai, chắc chắn sẽ bị cho là trình độ của bạn quá yếu kém, không truyền tải đúng ý bên kia, dù cho những điều đó có chính xác một trăm phần trăm đi chăng nữa. Bạn chính là nơi trút giận cho cả hai bên.

Là thông dịch, có thể nói  là so với phe đang chờ lắng nghe lời truyền đạt lại từ bạn thì bạn chính là người may mắn hơn cả vì bạn được nghe đầy đủ lời nói cùng với tất cả các cảm xúc kèm theo, có thể nói là “nguyên chất” nhất từ phía phe kia. Nếu đó là những lời bùi tai, mát lòng mát dạ thì bạn có thể lấy đó làm niềm kiêu hãnh. Nhưng nếu chẳng may là những lời nói khó nghe, những lời chỉ trích dành cho phe kia thì hiển nhiên bạn cũng chính là người hứng trọn các cao độ cảm xúc nêu trên, vì có thể chắc chắn một điều là dù cho phe kia có thể đoán được cảm xúc của đối phương đi chăng nữa thì họ cũng sẽ không tài nào cảm nhận được hoàn toàn cảm xúc kia. Chính bạn là người phải lắng nghe kỹ những lời khó nghe ấy để mà chọn lọc lại cho người cần nghe hay nói cach khác bạn chính là kẻ chịu trận cho khổ chủ của bạn.

Phương pháp để Biên-Phiên Dịch hiệu quả

Trong bài viết trước mình đã đề cập tới một câu truyện vui liên quan tới vấn đề thông dịch và đã có nhắc đến sơ qua về 3 yêu cầu cần thiết trong biên – phiên dịch. Bài viết này mình sẽ đề cập rõ hơn về 3 yêu cầu đó trong Biên lẫn Phiên dịch. Những kiến thức này là 1 phần trong môn học Lý Thuyết Dịch bản quyền thuộc về một giảng viên bộ môn Tiếng Anh của trường Đại Học Cần Thơ. Bên cạnh đó mình còn thu thập thêm 1 số kiến thức từ một số sách về Biên Dịch, đặc biệt là cuốn Tự Học Phiên Dịch của giáo sư Lê Tôn Hiến.

Có thể nói rằng, Dịch là giai đoạn cuối hay là “tầng cao nhất” trong tiến trình học ngoại ngữ: Nghe – Nói – Đọc – Viết – Dịch. Bởi vì trong Dịch là phải kết hợp và vận dụng tất cả các kỹ còn lại, và nó cũng như 4 kỹ năng còn lại, người ta muốn dịch tốt thì phải luyện tập nhiều trên học đường hoặc ngoài thực tế. Có người học lý thuyết rất giỏi nhưng dịch thì không được, và ngược lại có người học lý thuyết không được tốt nhưng dịch lại rất hay. Bởi vậy, nó là 1 môn kỹ năng và còn là 1 môn năng khiếu, và phải có kiến thức rộng lớn về văn học và ngoại ngữ của mình có và phải kiên nhẫn rèn luyện cả 1 thời gian dài chứ không thể là 1 sớm 1 chiều, và hơn hết là phải có 1 niềm đam mê. Và theo như lời các bậc giáo sư đã nói thì: Dịch là một cái nghề mà nhân lực “vừa thiếu lại vừa yếu” trong một xã hội mà “người giỏi ngoại ngữ thì không ít nhưng người dịch được chẳng có bao nhiêu”…Và mình cũng xin chia sẻ với mọi người 3 tiêu chí cần phải đạt được trong việc Dịch.

Về lý thuyết dịch, một bản dịch hoàn hảo thì phải thỏa mãn 3 tiêu chí: “Tín – Đạt – Nhã” mà khi học trên giảng đường, thầy tôi đã mong muốn các sinh viên như tôi phải thuộc lòng 3 chữ này như thuộc tên 3 miền địa lý Việt Nam, 5 yếu tố Ngũ Hành trong vũ trụ….(thầy tôi rất hài hước nhưng nhìn kỹ lại yêu cầu đó thì chúng ta phải thuộc lòng như thế). Vậy “Tín – Đạt – Nhã” là gì?

TÍN: trong tiếng Anh là Faithfulness. Tức là chữ Tín này này có nghĩa là phải trung thành, trung thực. Và chữ Tín ở đây tức là ta phải trung thành với nguyên bản dù là dịch viết hay dịch nói. Nói cách khác, Tín tức là trước hết ta phải dịch sao cho đúng từng chữ với nguyên bản và tất nhiên là phải đúng về mặt văn phạm. Tiêu chí này, khi chúng ta đang học tiếng Anh trên học đường vẫn thường xuyên sử dụng tiêu chí này rất nhiều. Chẳng hạn như nói:
“Can you swim?” – dịch ra là: “Bạn có thể bởi không?”
hoặc nói: Trên trời có mây trắng bay. – In the sky, there are white clouds flying.
Hay ta dịch: “Love at first sight” – “Yêu ngay cái nhìn đầu tiên”
Ngoài ra chữ Tín còn nói lên cái sự thành thật của lương tâm trong khi dịch, tức là không được dịch “xạo” (theo tiếng dân miền Nam ưa gọi).

Như vậy, muốn thực hiện được chữ Tín thì người dịch phải nghe cực giỏi (đối với phiên dịch) và phân tích cấu trúc câu cũng như là kiến thức văn phạm cực tốt (đối với biên dịch), sử dụng từ vựng phong phú và từ điển chuyên môn cực chuẩn.

Kế đến, nói về chữ “Đạt”. Tiếng Anh gọi là Expressiveness. Tức là người dịch phải thể hiện được thông điệp mà người nói (viết) muốn chuyển tải, hay thể hiện họ muốn nói gì. Đơn giản hơn tức là thể hiện và chuyển tải được nội dung của nguyên tác và phải đúng với văn hóa của ngôn ngữ đó và phải đúng với văn phong của nước đó. Thí dụ như:
Nguyên tác của cụm từ “Thanh mai trúc mã”, nếu dịch cho được chữ “Tín” là “beautiful and green bamboos”, nhưng nếu dịch vừa đạt được chữ “tín” và “đạt” là “A well-matched couple”.
Thêm nữa: “Inviting lips”, dịch có được chữ Tín là: “Cặp môi mời mọc”. Còn dịch có được cả Tín và Đạt là: “Đôi môi gợi cảm”.
Hoặc lấy lại cụm từ trên: “Love at first sight”. Tín: “Yêu ngay cái nhìn đầu tiên”. Tín – Đạt: “Tiếng sét ái tình”.

Một thí dụ khác rõ hơn, trong 1 cuốn sách, trong đó có 3 dòng chữ thuộc 3 ngôn ngữ khác nhau của 1 thông báo trước văn phòng một bác sỹ Pháp tại Sài Gòn vào thời trước 1975, mà chúng ta có thể tham khảo để thấy được sư khác biệt văn phong của từng quốc gia.
Thông báo đó là:
Ở đây nói tiếng Pháp      (Việt)
Ici on parle Francaise      (Pháp)
French is spoken here   (Anh)
(giải thích tiếng Pháp. Ici: nghĩa là “ở đây”. On: là đại từ nhân xưng, nghĩa là “chúng ta”. Parle: nghĩa là “nói” ) . Xem ra tiếng Việt mình văn phong và cấu trúc có vẻ na ná văn phong tiếng Pháp. Phải rồi, lịch sử chúng ta có cả trăm là thuộc địa của Pháp mà, và hơn nữa, chúng ta thử nhìn lại nguồn gốc của chữ Quốc Ngữ và ngôn ngữ tiếng Việt bây giờ có xuất xứ như thế nào là biết. Vì thế khi dịch, chúng ta nên tranh ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ mà phải dịch theo đúng văn phong của ngôn ngữ mà mình dịch sang.

Nhìn lại thí dụ trên, nếu ta dịch:
“Trên trời có mây trắng bay.” Khi mới dịch thì chúng ta sẽ dịch là: “In the sky, there are white clouds flying.” Nhận xét về câu này, về cấu trúc văn phạm và tự vựng thì hoàn toàn đúng, không có gì sai. Về mặt nghĩa thì hoàn toàn đúng với nguyên tác. Nhưng đó chỉ mới đạt được chữ “Tín” mà thôi. Nếu muốn dịch cho đạt được 2 tiêu chí “ Tín – Đạt” (hay dịch theo đúng văn phong tiếng Anh) thì là: “White clouds are seen flying in the sky.”
Tương tự ở thí dụ khác:
“Trong bụi cây kia có tiếng người thì thầm.” – “Tín – Đạt”: Human whispers are heard from those bushes.
“Trong vườn này có hương gì lạ” – “Some strange fragrance is smelt in this garden.”

Như vậy, khái niệm chữ “Đạt” trong biên phiên dịch là làm sao thể hiện được ý của tác giả theo ngôn ngữ dễ hiểu với người nghe và người đọc. Cái này thực sự là khá khó bởi nó đòi hỏi dịch giả phải cực kỳ tập trung là
 1 chuyện và nó còn đòi hỏi kiến thức về văn hóa, về ngôn ngữ chuyên ngành. Người dịch còn phải nắm vững ngôn ngữ tu từ - phép tu từ (rhetoric language - tức là những cách sử dụng để làm cho ngôn ngữ nói (viết) trở nên bóng bẩy), thành ngữ - tục ngữ (proverbs and idioms)…và đặc biệt nhất là bản dịch phải gắn liền với văn cảnh hay ngữ cảnh của sự việc.

Thế đó, khi muốn thực hiện được chữ Đạt thì người dịch phải am hiểu cả 2 ngôn ngữ và nền văn hóa kèm theo. Trí tưởng tượng cũng phải cực kỳ phong phú. Phải nhanh và nhạy, nắm rõ văn cảnh, và quan trọng hơn là tránh sự gò bó vào chữ tín quá mức, làm mất đi sự sáng tạo, hay nói đơn giản là tránh ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ.

http://www.thegioidichthuat.com/

Tuesday, February 18, 2014

CÁC QUY ĐỊNH VỀ HỌC THỰC HÀNH, NGOẠI KHÓA

Thông báo về học ngoại khóa (05-07-253)
 Công tác phiên dịch đòi hỏi sự thực hành, thực tiễn rất cao. Vì phiên dịch cũng như biên dịch yêu cầu trình độ ngoại ngữ ở bậc cao nhất và ứng dụng thực tiễn cao nhất. Các khóa phiên dịch phải được thiết kế sao cho đáp ứng được yêu cầu trên. Học viên sẽ được tham gia các buổi ngoại khóa tùy theo lĩnh vực và trình độ, bao gồm phiên dịch Hội thảo, Hội nghị, Phiên dịch hiện trường,
 ngoại khóa (dã ngoại) cùng với Giảng viên và Chuyên gia ngôn ngữ (tiếng Anh bản ngữ) và các chuyên gia, kỹ sư chuyên ngành khác tham gia hướng dẫn.     

CÁC QUY ĐỊNH VỀ HỌC THỰC HÀNH, NGOẠI KHÓA
(Các lớp Phiên dịch)

Học viên các lớp hãy đăng ký theo lớp (nêu rõ chuyên ngành định hướng sẽ làm việc sau này hoặc đang làm việc ở chuyên ngành đó) với Phòng VEDICO-EDU để xếp lớp/ nhóm tham gia học Ngoại khóa.

Các trình tự và chi tiết thực hiện như sau:

1- Đăng ký với phòng VEDICO-EDU (theo đúng trình độ, chuyên ngành cần tham gia buổi học ngoại khóa đó, không nhất thiết phải đi cùng với lớp của mình, mà căn cứ vào trình độ và chuyên ngành phù hợp)
2- Thực hiện tốt công tác chuẩn bị cá nhân theo hướng dẫn của VEDICO-EDU.
3- Đọc tài liệu liên quan, ghi chép những thắc mắc, ý kiến ... để Giảng viên và chuyên gia sẽ giải đáp cho học viên ở ngoài hiện trường (theo thực tế)
4- VEDICO EDU-TECH PROJECT sẽ bố trí xe ô tô (mini bus) - dùng 01 xe 16 chỗ (hiện có), có thể thuê thêm xe (theo tình hình cụ thể), và các lịch học liên quan.
5- Tùy vào khu vực (xa hay gần), bố trí nơi ăn, ở, nghỉ ngơi.... cho lớp sao cho hợp lý, tiết kiệm, nhưng hiệu quả.
6- Về đóng góp kinh phí: Kinh phí cho lớp học ngoại khóa, hiện trường nằm ngoài học phí/kinh phí của khóa học, nên học viên phải đóng thêm khoản kinh phí này. Tuy nhiên VEDICO sẽ hỗ trợ một phần kinh phí, lấy từ Quỹ đầu tư của dự án VEDICO EDU-TECH PROJECT. Cụ thể chi phí đóng góp của Giảng viên, Chuyên gia và Học viên như sau:
a) Tiền xe đi lại: VEDICO chủ động và hỗ trợ 100% (các lớp ngoại tỉnh); Trong phạm vị Hà Nội, học viên chủ động phương tiện đi lại.
b) Tiền ăn, uống: Mỗi cá nhân học viên sẽ tự lo khoản này. Riêng giáo viên thì VEDICO hỗ trợ 100%. Cán bộ, quản lý lớp của VEDICO-EDU: Hỗ trợ 100%.
d)  Các chi phí khác: đối ngoại, chụp ảnh, quay phim, tổ chức sự kiện : VEDICO-EDU chịu trách nhiệm 100%.
photo

Liên hệ và Đăng ký
Học viên liên hệ trực tiếp tại Văn phòng VEDICO-EDU tại: số nhà 50, ngõ 495 - đường Nguyễn Trãi – Thanh Xuân – Hà Nội (gần ĐH Hà Nội, đối diện đường Lương Thế Vinh sang). Tel. 0466573941; 0435533958; Hotline (Edu): 0902 063 175. (Tham khảo thêm Quy trình đăng ký học)                                                                          

Friday, February 14, 2014

ĐỀ THI TUYỂN SINH CAO ĐẲNG

BỘ Education AND Đào Tạo

Đề official
Đề thi Tuyển sinh Cao Đẳng 
 Môn: TIẾNG ANH; Khối D 
Time as a lesson: 90 minute, no ke the time delivery problem
Đề thi Gốm 80 Cầu (FROM CÂU HỎI 1 to CÂU HỎI 80)



I. Đánh chữ A, B, C, hoặc D vào phiếu trả lời của bạn để cho biết từ có 
phần gạch chân được phát âm khác nhau từ đó của phần còn lại trong mỗi câu hỏi sau đây.

Câu hỏi 1
A.  bụi es
B.  mong muốn es
C.  nghiên cứu es
D.  headach es

Câu hỏi 2
A.  de b t
B.  clim b ing
C.  tim b er
D.  lam b

Câu hỏi 3
A.  enou gh
B.  cou gh
C.  thorou gh
D.  tou gh

Câu hỏi 4
A. một pply
B.  m một ximum
C.  c một ctus
D.  n một tế

Câu hỏi 5
A.  f u nny
B.  r u bbish
C.  u PPER
D.  st u vết lõm

II. Đánh chữ A, B, C, hoặc D vào phiếu trả lời của bạn để chỉ ra chính xác 
câu trả lời cho mỗi câu hỏi sau đây.

Câu hỏi 6:  Nói chung, miền Nam nước Anh là như ______ như miền Bắc.
A.  phẳng
B.  bằng phẳng
C.  phẳng
D.  các bằng phẳng

Câu hỏi 7:  Helen được đi du lịch đến Đức vào ngày mai trong chuyến đi làm việc đầu tiên của cô
và cô rất vui mừng ______ nó.
A.  cho
B.  chống lại
C.  về
D.  với

Câu hỏi 8:  Anh sẽ khó hoàn thành làm bài tập về nhà khi bạn đến, ______?
A.  không anh
B.  có anh
C.  sẽ ông
D.  có không anh

Câu hỏi 9:  John: "Bạn có muốn có một get-cùng với chúng tôi vào cuối tuần?" Mickey ". ______"
A.  Không, tôi sẽ không
B.  Không, tôi sẽ không
C.  Có, chúng ta hãy
D.  Có, tôi rất muốn

Câu hỏi 10:  Nếu mọi người đến các cửa hàng trước đó, họ ______ một lựa chọn tốt hơn quần áo.


A.  sẽ tìm thấy
B.  sẽ được tìm kiếm
C.  sẽ tìm thấy
D.  sẽ tìm thấy


Câu hỏi 11:  Trước khi bắt đầu nấu ăn, bạn nên tập trung lại tất cả các ______ cần thiết.
A.  thành phần
B.  yếu tố
C.  chất
D.  các yếu tố

Câu hỏi 12:  Có gì ______ lần làm người Mỹ và người châu Á có về tình yêu và hôn nhân?
A.  truyền thống
B.  truyền thống
C.  chủ nghĩa truyền thống
D.  truyền thống

Câu hỏi 13:  Tôi không thể ______ tiếng ồn này nữa. Tôi sẽ viết thư
 khiếu nại đến chính quyền địa phương về vấn đề này.
A.  đưa lên với
B.  lấy đi từ
C.  trở lại
D.  làm cho ra khỏi


Câu hỏi 14:  Helen: "Bạn có thích đi đến bãi biển hoặc lên núi?" Kim: "______".
A.  Đó là rất tốt đẹp của bạn
B.  Các bãi biển chắc chắn
C.  Tôi rất muốn đi
D.  Cảm ơn các núi

Câu hỏi 15:  George: ". _____" Michelle: "Cảm ơn bạn đã khen của bạn."
A.  Bạn đã thực hiện công việc của bạn
B.  Đây là một món quà cho bạn
C.  Tôi rất vui vì bạn cũng một lần nữa
D.  Bạn trông khá trong trang phục này

Câu hỏi 16:  Bill quản lý để có được các nhà ga xe lửa chính ______ chân của ông đã bị phá vỡ.
A.  vì
B. 
C.  mặc dù
D.  mặc dù

Câu hỏi 17:  Tiến sĩ Smith là người trong ______ Tôi không có nhiều sự tự tin.
A.  mà
B.  người
C.  anh
D. 

Câu hỏi 18:  giám đốc này có ______ một số bộ phim nổi tiếng nhưng tôi nghĩ rằng điều này là tốt nhất.
A.  thực hiện
B.  tiến hành
C.  làm
D.  gồm

Câu hỏi 19:  Anh tự hỏi ______ em gái của mình trông như thế, bởi vì họ
 đã không gặp nhau một thời gian dài.
A.  tại sao
B. 
C.  cách
D. 

Câu hỏi 20:  Có ông Ba mang trang trại của ông ______ thị trường trong nước mỗi ngày?
A.  suất
B.  sản phẩm
C.  sản xuất
D.  sản phẩm

Câu hỏi 21:  Đây là ______ công việc khó khăn nhất mà tôi từng phải làm.
A.  bằng trái tim
B.  bởi cơ hội
C.  đến nay
D.  một mình

Câu hỏi 22:  Nhanh lên, hoặc họ ______ phục vụ bữa ăn của chúng ta đến nhà hàng.
A.  dừng lại
B.  sẽ dừng lại
C.  được dừng lại
D.  sẽ dừng lại

Câu hỏi 23:  Trong quá trình giác ngộ, quyền hạn và mục đích sử dụng của lý do ______.
A.  đã được nhấn mạnh
B.  nhấn mạnh
C.  đã được nhấn mạnh
D.  đã nhấn mạnh

Câu hỏi 24:  Ông là một ______ điển hình, luôn luôn nhìn vào mặt tươi sáng của tất cả mọi thứ.
A.  bi quan
B.  người hướng nội
C.  hướng ngoại
D.  lạc quan

Câu hỏi 25:  Đó là phong cách ăn mặc ______ đã được thiết kế bởi Titian,
bởi vì nó không mặc đến sau khi ông chết.
A.  sẽ không
B.  thì không
C.  có thể không
D.  oughtn't

Câu hỏi 26:  Chai thuốc phải có mũ childproof ______ trẻ em nghĩ
thuốc là kẹo và độc thân.
A.  mặc dù
B.  nếu có
C.  để
D.  trong trường hợp

Câu hỏi 27:  đội bóng yêu thích của tôi ______ 15 trận mùa này,
 và có lẽ sẽ giành chức vô địch.
A.  là chiến thắng
B.  thắng
C.  đã giành chiến thắng
D.  sẽ giành chiến thắng

Câu hỏi 28:  Bạn cần phải có ______ thành phần của bạn một cách cẩn thận trước khi bạn đưa nó vào
A.  nhìn thấy thông qua
B.  nghĩ
C.  nhìn vào
D.  đi qua

Câu hỏi 29:  "Đừng lo lắng về vòng cổ của bạn.
Đưa nó cho tôi và tôi hứa sẽ ______ chăm sóc tuyệt vời của nó. "
A.  mang
B.  mất
C.  giữ
D.  làm

Câu hỏi 30:  Cảnh sát sẽ xem xét ______ sự biến mất của con.
A.  xung quanh
B.  vào
C.  qua
D.  sau


III. Đánh chữ A, B, C, hoặc D vào phiếu trả lời của bạn để chỉ ra các từ hoặc
 cụm từ đó là gần nhất trong ý nghĩa cho phần gạch chân trong mỗi câu hỏi sau đây.

Câu hỏi 31:  Các phi hành đoàn chia preservers cuộc sống trong hai mươi  sợ  hành khách
khi con tàu bắt đầu chìm.
A.  kiệt sức
B.  ngạc nhiên
C.  sợ hãi
D.  vui mừng

Câu hỏi 32:  Bạn phải trả lời các câu hỏi của cảnh sát  trung thực , nếu không, bạn sẽ gặp rắc rối.
A.  chính xác như những điều thực sự xảy ra
B.  với một thái độ tiêu cực
C.  một cách có hại
D.  như trustingly như bạn có thể

Câu hỏi 33:  Mẹ tôi luôn luôn  nóng tính  khi tôi rời khỏi phòng của tôi rối tung.
A.  cảm thấy xấu hổ
B.  nói quá nhiều
C.  rất hạnh phúc và hài lòng
D.  dễ dàng khó chịu hoặc bị kích thích

Câu hỏi 34:  Trong trận động đất, nhiều tòa nhà  bị sập , giết chết hàng ngàn người.
A.  đi ra vô tình
B.  giảm xuống bất ngờ
C.  phát nổ bất ngờ
D.  nổ ra dữ dội


Câu hỏi 35:  Chúng tôi thực sự  đánh giá cao  sự giúp đỡ của bạn, mà không 
có mà chúng ta không có thể có được công việc của chúng tôi thực hiện trong thời gian.
A.  cảm thấy biết ơn
B.  giảm giá
C.  yêu cầu
D.  tự hào về


IV. Đánh chữ A, B, C, hoặc D vào phiếu trả lời của bạn để hiển thị gạch chân 
phần cần điều chỉnh trong mỗi câu hỏi sau đây.

Câu hỏi 36:  Các  lớn hơn  (A) trong ba bữa ăn hàng ngày  cho  (B) hầu hết các gia đình Mỹ
   (C) ăn tối,  phục vụ  (D) vào khoảng 06:00.
Một
B
C
D

Câu hỏi 37:  Từ  (A) "lặn" là  thực sự  (B) một từ viết tắt mà  đi kèm của  (C)
cụm từ " khép kín  dụng cụ thở dưới nước (D) ".
Một
B
C
D

Câu hỏi 38:  Xây dựng  (A) hàng ngàn năm  trước  (B),  cổ  (C) cung điện là  phổ biến với  (D)
khách du lịch hiện đại.
Một
B
C
D


Câu hỏi 39:  Các cũ  (A) phụ nữ không thể  nhớ  (B) nơi   (C) cô  giữ  (D) tiền tiết kiệm.
Một
B
C
D

Câu hỏi 40:  Tôi tìm thấy  tôi mới  (A) kính áp tròng  kỳ lạ  (B) lúc đầu, nhưng tôi  đã được sử dụng  (C)
cho họ  vào cuối  (D).
Một
B
C
D


V. Đánh chữ A, B, C, hoặc D vào phiếu trả lời của bạn để chỉ ra chính xác 
câu trả lời cho mỗi câu hỏi sau đây.

Câu hỏi 41:  ______ cho bữa ăn sáng là bánh mì và trứng.
A.  Đó là tôi chỉ thích
B.  Trong đó tốt hơn tôi thích
C.  Điều tôi thích nhất
D.  Thức ăn những gì tôi thích

Câu hỏi 42:  Trước khi ông được 20, ông đã phát triển ______ cho máy tính cá nhân.
A.  ngôn ngữ thế giới máy tính đầu tiên của
B.  các ngôn ngữ máy tính cho thế giới đầu tiên
C.  thế giới ngôn ngữ máy tính đầu tiên
D.  ngôn ngữ máy tính trên thế giới đầu tiên của

Câu hỏi 43:  Theo các điều kiện của học bổng của tôi, sau khi tốt nghiệp, ______.
A.  Tôi sẽ làm việc toàn thời gian của trường đại học
B.  Tôi sẽ được cung cấp bởi các trường đại học
C.  các trường đại học sẽ sử dụng tôi toàn thời gian
D.  sử dụng lao động sẽ cung cấp cho tôi một công việc toàn thời gian


Câu hỏi 44:  Ông đã cho thư viện trường nhiều lần ______.
A.  nếu học kỳ đã bắt đầu
B.  trong khi học kỳ bắt đầu
C.  kể từ khi bắt đầu học kỳ
D.  sau khi  học kỳ bắt đầu


Câu hỏi 45:  Chỉ sau khi thực phẩm đã được sấy khô hoặc đóng hộp ______.
A.  cần được lưu trữ để tiêu thụ
B.  nó có thể được lưu trữ để tiêu thụ
C.  rằng nó được lưu trữ để tiêu thụ
D.  được nó được lưu trữ để tiêu thụ

VI. Đánh chữ A, B, C, hoặc D vào phiếu trả lời của bạn để chỉ ra
 câu đó là gần nhất trong ý nghĩa cho mỗi câu hỏi sau đây.

Câu hỏi 46:  Các thử nghiệm chúng tôi đã làm thời gian qua là khó khăn hơn thế này.
A.  Chúng tôi đã làm một bài kiểm tra dễ dàng thời gian qua và một trong những khó khăn thời gian này.
B.  Xét nghiệm này là không khó khăn như chúng tôi đã làm thời gian qua.
C.  Thời gian này chúng ta phải làm bài kiểm tra khó khăn nhất của tất cả.
D.  Các bài kiểm tra, chúng tôi đã thực hiện thời gian này không phải là khó khăn cả.

Câu hỏi 47:  Anh ta không thể thực hành lặn biển vì anh có một trái tim yếu.
A.  Thực tế là anh ấy có một trái tim yếu đuối không thể ngăn chặn anh ta thực hành lặn.
B.  Lặn bằng bình khí làm cho anh ta đau khổ từ việc có một trái tim yếu đuối.
C.  Lý do tại sao anh ta không thể thực hành lặn là ông có một trái tim yếu.
D.  Ông có một trái tim yếu nhưng ông vẫn tiếp tục hành nghề lặn biển.

Câu hỏi 48:  Cô hỏi John để lặp lại những gì ông đã nói.
A.  "Bạn sẽ vui lòng lặp lại những gì John nói?" cô hỏi.
B.  "Xin hãy lặp lại những gì bạn nói, John," cô nói.
C.  "Bạn phải lặp lại những gì bạn nói, John," cô nói.
D.  "Xin hãy lặp lại những gì bạn nói với John," cô nói.

Câu hỏi 49:  Người ta tin rằng không bên nào muốn chiến tranh.
A.  Cả hai bên đều được cho là đã muốn chiến tranh.
B.  Cả hai bên đều chịu trách nhiệm về chiến tranh bùng nổ.
C.  Chiến tranh được cho là muốn của cả hai bên.
D.  Người ta tin rằng chiến tranh nổ ra từ cả hai bên.

Câu hỏi 50:  "Không, đó là không đúng sự thật. Tôi không ăn cắp tiền ", Jean nói!.
A.  Jean từ chối để ăn cắp tiền.
B.  Jean không có ý định ăn cắp tiền.
C.  Jean thừa nhận ăn cắp tiền.
D.  Jean phủ nhận đã bị đánh cắp tiền.




VII. Đọc kỹ đoạn văn sau đây được lấy từ  Microsoft Encarta 2009,  và đánh dấu 
chữ A, B, C, hoặc D vào phiếu trả lời của bạn để cho biết từ đúng cho 
mỗi khoảng trống 51-60.


    Các trường ở Hoa Kỳ đã không luôn luôn có một số lượng lớn các thư viện. Như (51) ______ như
 năm 1958 khoảng một nửa số trường công lập ở Hoa Kỳ không có thư viện ở tất cả. 
Các (52) ______ của thư viện trường học công cộng tăng lên đáng kể khi chính phủ liên bang
 thông qua Đạo luật năm 1965 Tiểu học và Trung học phổ thông, (53) ______ cung cấp kinh phí 
cho các học khu để cải thiện các chương trình và cơ sở giáo dục của họ, bao gồm thư viện của họ. 
54) ______, nhiều nhà giáo dục cho rằng kể từ khi pháp luật đã được thông qua chi tiêu liên bang 
đã không tăng đủ để đáp ứng tăng (55) ______ công nghệ thư viện mới như cơ sở dữ liệu máy tính
 và truy cập Internet.
    Bởi vì chính phủ liên bang chỉ cung cấp kinh phí hạn chế cho các trường học, các khu học
 chánh cá nhân (56) ______ vào các quỹ từ thuế bất động sản địa phương để đáp ứng phần lớn các
 chi phí trường công lập. Vì vậy, các thư viện của các trường công lập có xu hướng phản ánh
 (57) ______ khả năng của các cộng đồng mà họ đang ở. Huyện ở vùng ngoại ô giàu có thường 
có đầy đủ nhân viên thư viện (58) ______ nguồn lực dồi dào, cơ sở vật chất rộng rãi, và chương
 trình và hỗ trợ giảng dạy. Trong (59) ______, khu vực trường học trong nhiều lĩnh vực kém nhà thư
 viện của họ trong lớp học bình thường hoặc trong các phòng nhỏ. Các thư viện trong các lĩnh vực
 thường được nhân viên của tình nguyện viên, những người tổ chức và (60) ______ cuốn sách
 thường out-of-date, không thích hợp, hoặc bị hư hỏng.
Câu hỏi 51:
A.  thường xuyên
B.  gần đây
C.  tươi
D.  mới

Câu hỏi 52:
 A.  chữ số
B.  lượng
C.  số
D.  chữ số

Câu hỏi 53:
 A.  rằng
B.  người
C. 
D.  này

Câu hỏi 54:
 A.  Nếu không
B.  Do đó
C.  Do đó
D.  Tuy nhiên


Câu hỏi 55:
 A.  tốt
B.  phí
C.  chi phí
D.  tổng

Câu hỏi 56:
 A.  đi
B.  đi
C.  dựa
D.  nghỉ

Câu hỏi 57:
 A.  kinh tế
B.  giáo dục
C.  tài chính
D.  chính trị

Câu hỏi 58:
 A.  cho
B.  với
C.  trên
D.  bởi

Câu hỏi 59:
 A.  Ngược lại
B.  ngược
C.  trái
D.  xung đột


Câu hỏi 60:
 A.  duy trì
B.  được
C.  chứa
D.  đạt được




VIII. Đọc kỹ đoạn văn sau đây  được lấy từ  các kỹ năng xây dựng thi TOEFL iBT -  nâng cao 
bởi  Linda Robinson Fellag , và đánh dấu A, B, C, hoặc D vào phiếu trả lời của bạn để cho biết
 câu trả lời đúng cho mỗi câu hỏi 61-70.


Mickey Mantle
    Mickey Mantle là một trong những cầu thủ bóng chày vĩ đại nhất của mọi thời đại.
 Anh chơi cho đội New York Yankees trong năm của họ về vinh quang. Kể từ thời điểm bắt đầu
 Mantle để chơi chuyên nghiệp năm 1951 đến năm cuối cùng của ông vào năm 1968, bóng chày 
là trò chơi phổ biến nhất tại Hoa Kỳ. Đối với nhiều người, Mantle tượng trưng cho hy vọng, sự 
thịnh vượng, và sự tự tin của Mỹ tại thời điểm đó.
    Lớp vỏ là một cầu thủ nhanh chóng và mạnh mẽ, một "switch-hitter" người dơi có thể cả hai
 thuận tay phải và tay trái. Ông đã giành được trận đấu, trò chơi, một chức vô địch World 
Series khác, cho đội của mình. Ông là một vận động viên tuyệt vời, nhưng  điều này  
một mình không thể giải thích niềm đam mê của Mỹ với anh ta.
    Có lẽ đó là bởi vì ông là một đẹp trai, tóc đỏ cậu bé nước, con trai của một người thợ 
mỏ nghèo từ Oklahoma. Sự nghiệp của mình, từ các mỏ chính của phương Tây tới đỉnh cao
 của thành công và danh tiếng, là một phiên bản câu chuyện cổ tích của giấc mơ Mỹ. 
Hoặc có lẽ đó là vì Mỹ luôn luôn yêu thương một "tự nhiên": một người chiến thắng mà 
không có vẻ để cố gắng, có tài năng dường như đến từ một ân sủng bên trong. Đó là Mickey Mantle.
    Nhưng  như nhiều người nổi tiếng, Mickey Mantle đã có một cuộc sống riêng tư đó là 
đầy đủ của các vấn đề. Ông chơi mà không cần khiếu nại mặc dù đau liên tục chấn thương. 
Ông sống để  thực hiện  ước mơ của cha mình và uống để quên đi cái chết sớm của cha mình.
    Đó là một nghiện khủng khiếp mà cuối cùng bị phá hủy cơ thể của mình. Nó cho ông xơ gan
 và  tăng tốc  sự tiến bộ của ung thư gan. Ngay cả khi Mickey Mantle đã quay lưng lại với 
cuộc sống cũ của mình và cảnh báo những người trẻ tuổi không theo gương của ông, quá
 trình phá hoại có thể không được dừng lại. Mặc dù một hoạt động cấy ghép gan đã có tất 
cả những người yêu thương và ngưỡng mộ anh với hy vọng cho một sự hồi phục, Mickey
 Mantle chết vì ung thư ở tuổi 63.
Câu hỏi 61:  ý tưởng chính của đoạn văn là gì?
A.  thành công Mickey Mantle và cuộc sống riêng tư đầy đủ các vấn đề
B.  Mickey Mantle là cầu thủ bóng chày vĩ đại nhất của mọi thời đại
C.  Mickey Mantle và lịch sử của bóng chày
D.  Mickey Mantle và sự nghiệp của mình như một cầu thủ bóng chày

Câu hỏi 62:  Nó có thể được suy ra từ khoản 1 Mantle rằng ______.
A.  giới thiệu bóng chày vào Mỹ
B.  kiếm được rất nhiều tiền từ bóng chày
C.  đã phải cố gắng hết sức để trở thành một cầu thủ chuyên nghiệp
D.  chơi cho New York Yankees tất cả cuộc sống của mình


Câu hỏi 63:  Theo đoạn văn, Mantle có thể ______.
A.  dơi tốt hơn với bàn tay trái của mình hơn với bàn tay phải của mình
B.  nhấn với những con dơi ở hai bên của cơ thể của mình
C.  cho hit mạnh mẽ nhất trong đội ngũ của mình
D.  đánh bóng ghi bàn từ khoảng cách dài


Câu hỏi 64:  Từ " này "tại khoản 2 đề cập đến ______.
A.  Mantle bị cuốn hút bởi nhiều người
B.  Mantle là một vận động viên tuyệt vời
C.  Mantle là một "switch-hitter"
D.  Mantle là một cầu thủ nhanh chóng và mạnh mẽ


Câu hỏi 65:  Nó có thể được suy ra từ những đoạn văn mà đối với hầu hết người Mỹ ______.
A.  thành công trong sự nghiệp Mantle là khó tin
B.  Mantle đã có rất nhiều khó khăn để đạt được sự nổi tiếng và thành công
C.  sự thành công trong sự nghiệp Mantle là không tự nhiên
D.  Mantle đã được đào tạo khó khăn để trở thành một cầu thủ tốt

Câu hỏi 66:  Tác giả sử dụng từ " Nhưng "tại khoản 4 để ______.
A.  giải thích như thế nào Mantle đã gặp rắc rối
B.  cho một ví dụ về những rắc rối trong cuộc sống riêng tư của Mantle
C.  đưa ra một lập luận ủng hộ thành công và nổi tiếng Mantle
D.  thay đổi chủ đề của đoạn văn

Câu hỏi 67:  Từ " thực hiện "tại khoản 4 chủ yếu có nghĩa là ______.
A.  đạt được những gì đang hy vọng, mong ước, hoặc dự kiến
B.  làm điều gì đó theo cách mà bạn đã tol
C.  làm những gì bạn đã hứa hoặc đồng ý làm
D.  có được gần gũi hơn với một cái gì đó mà bạn đang theo đuổi


Câu hỏi 68:  Từ " tăng tốc "tại khoản 5 là gần nhất trong ý nghĩa cho ______.
A.  bị trì hoãn
B.  trở nên tồi tệ
C.  tốt đẹp hơn
D.  dồn

Câu hỏi 69:  Chúng ta có thể nhìn thấy từ đoạn 5, sau khi cha ông qua đời, Mantle ______.
A.  quên giấc mơ của cha mình
B.  phải chịu rất nhiều đau
C.  có một cuộc sống hạnh phúc hơn
D.  chơi tốt hơn


Câu hỏi 70:  Điều nào sau đây được nhắc đến như là nguyên nhân chính của
 phá hủy cơ thể Mantle?
A.  cách của ông về cuộc sống
B.  sự cô đơn của ông
C.  giấc mơ của Ngài
D.  hoạt động cấy ghép gan của ông




IX. Đọc kỹ đoạn văn sau đây lấy từ  văn hóa Hướng dẫn-Oxford 
Từ điển cao cấp liệu học tập, 7th Edition, và đánh dấu A, B, C, D trên 
phiếu trả lời của bạn để cho biết câu trả lời đúng cho mỗi câu hỏi 71-80.


    Vùng nông thôn của Anh rất nổi tiếng với vẻ đẹp của nó và nhiều tương phản: núi của 
nó trần và moorland, hồ, sông ngòi, rừng, và, bờ biển hoang dã thường dài của nó. Nhiều
 người trong số những khu vực đẹp nhất là vườn quốc gia và được bảo vệ khỏi sự phát triển. 
Khi người dân Anh nghĩ của vùng nông thôn họ nghĩ về đất nông nghiệp, cũng như không gian mở. 
Họ tưởng tượng con bò hoặc cừu trong các lĩnh vực màu xanh lá cây  kèm  theo hàng rào hoặc 
bức tường đá, và cánh đồng lúa mì và lúa mạch. Hầu hết đất nông nghiệp là tư nhân nhưng
 được cắt ngang bởi một mạng lưới các lối đi công cộng. 
     Nhiều người liên kết các vùng nông thôn với hòa bình và thư giãn. Họ dành thời gian
 đi bộ hoặc đi xe đạp miễn phí của họ ở đó, hoặc đi đến đất nước cho một bữa ăn ngoài trời
 hoặc một bữa ăn trưa quán rượu. Trong mùa hè mọi người đi đến các trang trại trái cây và 
hái dâu và trái cây khác. Chỉ có một vài người sống trong nước làm việc ở các trang trại. 
Nhiều đi lại để làm việc ở các thị trấn. Nhiều người khác mơ ước ở trong nước, nơi mà  họ tin 
rằng họ sẽ có một cuộc sống tốt hơn và khỏe mạnh hơn. 
     Các vùng nông thôn phải đối mặt với nhiều mối đe dọa. Một số được  kết hợp với  tập 
quán canh tác hiện đại, và việc sử dụng các hóa chất độc hại cho cây trồng và động vật hoang dã.
 Đất đai cũng là cần thiết cho ngôi nhà mới. Vành đai xanh, diện tích đất xung quanh nhiều thành 
phố, đang chịu áp lực ngày càng tăng. Kế hoạch xây dựng đường giao thông mới phản đối 
mạnh mẽ của các tổ chức đang cố gắng để bảo vệ các vùng nông thôn. Người biểu tình thiết 
lập trại để ngăn chặn, hoặc ít nhất là sự chậm trễ, công việc xây dựng. 
     Mỹ có nhiều khu vực của cảnh quan hoang sơ và đẹp, và có nhiều lĩnh vực, đặc biệt là ở 
phương Tây trong tiểu bang như Montana và Wyoming, nơi ít người sinh sống. Ở các bang
 New England, như Vermont và New Hampshire, người ta thường thấy các trang trại nhỏ 
bao quanh bởi những ngọn đồi và các khu vực màu xanh lá cây. Ở Ohio, Indiana, Illinois 
và các tiểu bang miền Trung Tây khác, lĩnh vực ngô hoặc lúa mì  đạt đến chân trời  và 
có nhiều dặm giữa các thị trấn. 
     Chỉ có khoảng 20% ​​người Mỹ sống bên ngoài thành phố và thị trấn. Cuộc sống có 
thể khó khăn cho những người sống trong nước. Các dịch vụ như bệnh viện và trường 
học có thể tiếp tục đi và đi mua sắm có thể có nghĩa là lái xe đường dài. Một số người 
thậm chí còn phải lái xe từ nhà đến con đường chính nơi thư của họ còn lại trong một 
cái hộp. Mặc dù những khó khăn, nhiều người sống ở trong nước nói rằng họ thích 
an toàn, sạch sẽ, môi trường hấp dẫn. Nhưng con cái của họ thường xuyên di chuyển
 đến một thị trấn, thành phố trong thời gian sớm nhất có thể. 
    Như ở Anh, người Mỹ muốn đi ra ngoài để đất nước vào cuối tuần. Một số người đi
 trên cắm trại hoặc các chuyến đi câu cá, những người khác đi bộ đường dài trong 
công viên quốc gia.
Câu hỏi 71:  Chúng ta có thể nhìn thấy từ đoạn Kinh Thánh trong vùng nông thôn của Anh ______.
A.  không có khu vực phải đối mặt với biển
B.  chỉ có một vài trang trại thuộc sở hữu công khai
C.  khu vực đẹp nhất không được bảo quản tốt
D.  rất khó để đi du lịch từ một trang trại khác


Câu hỏi 72:  Từ " kèm theo "trong đoạn một là gần nhất trong ý nghĩa cho ______.
A.  xoay
B.  chấp nhận
C.  bị chặn
D.  bao quanh


Câu hỏi 73:  Điều nào sau đây là không  đề cập như là một hoạt động thư giãn
ở nông thôn của Anh?
A.  Đi bơi
B.  Chọn trái cây
C.  Đi dạo
D.  Đi xe đạp

Câu hỏi 74:  Những gì từ " họ "tại khoản 2 tham khảo?
A.  Những người mơ ước sống trong nước
B.  Những người đi đến các trang trại trái cây vào mùa hè
C.  Những người đi cho đất nước cho một bữa ăn ngoài trời
D.  Những người đi làm ở các thị trấn

Câu hỏi 75:  Điều nào sau đây đe dọa các vùng nông thôn ở Anh?
A.  Các cuộc biểu tình chống lại việc xây dựng
B.  tập quán canh tác hiện đại
C.  Thực vật và wildlif
D.  Các vành đai xanh xung quanh thành phố

Câu hỏi 76:  Cụm từ " liên quan "tại khoản 3 là gần nhất trong ý nghĩa cho ______.
A.  được hỗ trợ bởi
B.  gọi
C.  tách ra khỏi
D.  liên quan đến


Câu hỏi 77:  Theo đoạn văn, tất cả những điều sau đây là đúng sự thật TRỪ ______.
A.  việc sử dụng các hóa chất gây hại cho môi trường của vùng nông thôn
B.  trại được thành lập bởi những người biểu tình để ngăn chặn các công trình xây dựng
C.  vành đai xanh đang chịu áp lực vì sự cần thiết đối với đất
D.  tất cả các tổ chức mạnh mẽ phản đối kế hoạch xây dựng đường

Câu hỏi 78:  Cụm từ " tiếp cận với chân trời "tại khoản 4 là gần nhất trong ý nghĩa cho ______.
A.  có giới hạn
B.  là vô tận
C.  là ngang
D.  rất đa dạng


Câu hỏi 79:  Theo đoạn văn, một số người Mỹ chọn để sống ở trong nước vì ______.
A.  con cái của họ tận hưởng cuộc sống đất nước
B.  họ được hưởng an toàn, sạch sẽ, môi trường hấp dẫn có
C.  các bệnh viện, trường học và các cửa hàng được thuận tiện nằm ở đó
D.  cuộc sống có thể được dễ dàng hơn cho họ

Câu hỏi 80:  Điều nào sau đây là không được đề cập trong đoạn văn?
A.  Đa số những người Mỹ sống ở các thành phố và thị trấn.
B.  Nhiều người Anh nghĩ của đất nước như một sự bình yên và thư giãn.
C.  thị trấn ở một số bang miền Trung Tây của Mỹ được phân cách bởi khoảng cách dài.
D.  Cả hai người Anh và Mỹ đang nghĩ đến việc di chuyển đến các vùng nông thôn.